
Cội nguồn, truyền thống và những dấu ấn lịch sử của dòng họ.
Vật gốc ở trời, người gốc ở tổ. Nghĩa chữ tổ là gốc, là đầu. Có sơ tổ, có tiên tổ, có can (kỵ), có cố (cụ), có ông đều là tổ. Con cháu đời sau đông đúc phồn thịnh, gốc chỉ tự thân một người thôi.
Thánh nhân sở dĩ lập ra tông pháp là khiến người ta biết từ đâu mà có, để cho họ hàng hòa thuận, phong tục đẹp đẽ. Từ lúc tông pháp bị bỏ, các nhà tấn thân Trung Quốc hình như có kẻ không biết rõ bà con. Huống hồ, ngoài Cửu châu, xa ngũ kinh, kẻ biết đến tổ tiên tuyệt nhiên rất ít. Tuy nhiên, không bàn tới những kẻ không hay điển lễ thì tuy rằng tông pháp bị bỏ, mà nhà nào có phổ thì tông phái cũng không đến nỗi mất sạch. Sau có kẻ làm, có chỗ khảo để tỏ lòng thành tôn tổ, trọng gốc. Còn như những nhà không có phổ tịch thì lại càng bị tan vỡ.
Nước Việt ta hiệu Giao Chỉ. Từ khi họ Hùng, họ Triệu mất thì thuộc về Trung thổ. Lúc bấy giờ có quan Tàu cai trị. Khoảng đầu đời Tống, vua Đinh Tiên Hoàng ra, mới bắt đầu có riêng một nước. Lê, Lý, Trần theo đó. Trần mất thì nhà Minh lại lấy nước ta chia làm quận, huyện. Đến thời vua ta mới khôi phục mà định hẳn riêng một phương Nam. Người thổ, người khách ở chung nhau lâu đời, phong khí ngày một mở. Người đều hóa ra giống Trung Hoa, sinh ra với ngón chân giao nhau rất ít. Người Giao Chỉ phần nhiều cùng Trung Hoa như nhau.
Tổ tiên nhà ta ở huyện Nghi Xuân, xã Cương Gián, thôn Tiền. Thôn ấy ở phía Bắc núi Đại Hồng (Hồng Lĩnh), phía Đông tới Đại Hải. Một dòng khe Xuân Viên chảy quanh phía trước. Đinh nhiều, của lắm, đời đời là một cự tộc ở Cương Gián. Vì gặp phải nhiều phen binh hỏa, phổ tịch không truyền. Từ 9 đời trở xuống, thế thứ còn chép được. Chú ta là Hầu Đông Các (Tiến sĩ Nguyễn Hành) đã từng hỏi bác già tên là Bật Đôn mà biết đại lược.
Ta nhân đó bèn hỏi các ông già còn sống, tìm giấy cũ còn sót lại mà kể rõ các việc trước chưa rõ, định làm phổ đại tông, tiểu tông. Phàm dòng đầu thì theo lệ viết bằng chữ lớn, dòng nối theo tiên tổ gọi là đại tông. Các con thứ thì theo lệ chép bằng chữ chua nhỏ, con cháu sinh ra là tiểu tông. Ngày húy, nơi táng đều phụ lục.
Việc nào còn nghi, mà không kê cứu rõ thì không dám đoán quyết. Nghĩa gì đáng giấu thì không dám lấy lòng thẳng mách ra. Chỉ chép chi phái, danh hiệu để con cháu biết mình tự đâu ra, ngõ hầu không đến nỗi quên gốc mình mà thôi.
Phàm kẻ sinh sau ta, xem phổ lục này nên biết đến đức sinh thành của cha ông, đến đạo lớn nhỏ của anh em. Cúng đơm phải hết lòng thành, giao tề phải làm hết đạo. Như thế để buộc lòng người cho khỏi loạn, giữ gia nghiệp đến vô cùng. Người xưa mà gọi là tông pháp, bắt mối ở đó vậy. Không nên đây đó ngờ nhau, buông lòng hoang, diệt lòng đức. Tông không thành tông, nhà không nhìn nhà.
Chép phổ mục đích là thế.
Đời Cảnh Hưng, Giáp Tuất, mạnh thu, ngày sóc (ngày 01 tháng 7 năm 1754). Tiểu tông của tiểu tông, thứ tôn, cống sinh Nguyễn Quang Thiếp bái soạn.