
Đôi lời giới thiệu về cội nguồn, truyền thống và tinh thần của dòng họ chúng ta.
Họ Nguyễn Bật ta may mắn có thế thứ được truyền hơn 20 đời, tính từ Sơ tổ Quận công Nguyễn Lưu, Ngài thi đậu võ cử và làm quan từ năm 1470 đến nay (2023) là 553 năm. Đó là nhờ công lao to lớn của các bậc tiền bối như các Ngài Nguyễn Bật Đôn, Tiến sĩ Nguyễn Hành, Nguyễn Danh Dương, Nguyễn Quang Hợp, Nguyễn Trọng Đông v.v… và đặc biệt là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Người đã viết gia phổ họ ta (năm 1754) lưu truyền đến nay (2023) đã được 269 năm. Đáng tiếc là chúng ta không còn bản gốc bút tích của Ngài. Họ ta cũng rất biết ơn Cụ Giám sinh Nguyễn Dương Thanh đã dịch gia phổ ra chữ Quốc ngữ và viết tiếp những đời sau.
Mặc dù có những lúc khó khăn chủ quan và khách quan, song thời nào cũng có những người con tâm huyết với họ. Sau năm 1975, các vị Nguyễn Tuệ, Nguyễn Thuyết, Nguyễn Thưởng, Nguyễn Tích, Nguyễn Trương Bình, Nguyễn Quỳ vv… đã viết thêm các đời 16, 17, thậm chí viết tay và in phô tô. Thật đáng trân trọng!
Tôi may mắn có được quyển gia phổ chép tay bằng chữ Hán của thân phụ tôi (tức Cụ Nguyễn Trọng Thuận) viết vào khoảng năm 1935. Sau này chú Nguyễn Tích lại cho tôi mượn quyển gia phổ họ ta bằng chữ Hán, viết khoảng năm 1937 do Cụ Nguyễn Quang Thâm thực hiện. Nội dung hai quyển gần giống nhau, mỗi quyển dày gần 100 trang. Nhân có sự quen biết với Tiến sĩ Trần Lê Sáng ở viện Hán Nôm và Trung tá, Cử nhân Hán Nôm Võ Toán ở Cục Địch vận, bèn nhờ họ dịch ra chữ Quốc ngữ.
Đọc đi, đọc lại nhiều lần, so sánh cả 3 quyển, tôi mới quyết định biên tập lại quyển gia phổ từ đời thứ 1 đến đời thứ 10; cháu Nguyễn Bật Sinh (đời thứ 18) được giao trách nhiệm tổng biên và trực tiếp biên tập từ đời thứ 11 đến đời thứ 15. Các cháu đời thứ 18, 19 thuộc 24 chi của họ ta đã biên tập danh sách dòng họ từ đời thứ 16 đến đời thứ 18. Bản gia phổ này chủ yếu dựa vào quyển do cụ Nguyễn Dương Thanh dịch năm 1940. Chỗ nào cả 3 bản thống nhất thì dễ viết, chỗ nào mà 2 bản mới giống nhau mà ở bản cũ chưa có thì cũng bổ sung vào, nhất là đời thứ 2, thứ 3.
Tên gọi các đời phải theo gia lễ “Ngũ đại mai thần chủ” mà gọi là “Tiên tổ” hay “Tổ”. Hiện nay đời thứ 15 họ ta đều đã mất, đời thứ 16 chi trưởng và chi thứ vẫn còn, do vậy trong gia phổ từ đời thứ 11 về trước gọi là “Tiên tổ”, từ đời thứ 12 đến nay gọi là “Tổ”; Đồng thời gia phổ chỉ biên tập từ đời thứ 15 trở về trước, từ đời thứ 16 đến nay lập danh sách dòng họ. Các đời sơ tổ, thứ sơ tổ, thủy tiên tổ gọi là “Ngài” và các tiên tổ có công với nước, được phong tước, phong hầu cũng gọi là “Ngài”; những người còn lại gọi là “Ông”.
Vì nhiều nhân vật trong họ ta liên quan tới các triều đại, các sách chính sử. Do vậy, trong các bản cũ ghi chép thời gian theo can, chi (ví dụ như Giáp Tí, Ất Sửu v.v…) nay thêm vào năm dương lịch và triều đại nhà vua cho dễ theo dõi; Đồng thời chú thích những vấn đề liên quan tới lịch sử.
Hoàn cảnh khách quan thật khó khăn, con cháu họ ta hiện nay cư trú trên mọi miền đất nước, thậm chí ở nước ngoài. Làm sao biết được sự nghiệp và hành trang mỗi người, ghi sơ sài không đành lòng, ghi sai lại càng có tội. Chờ đợi cho đủ tư liệu thì thật khó, cho nên chúng ta không cầu toàn, chỉ đồng lòng và cố gắng cao nhất để biên tập lại quyển gia phổ này. Vì thế, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, mong người trong họ thông cảm. Khát vọng cháy bỏng là làm sao in ấn được quyển gia phổ họ ta chính xác hơn, đẹp hơn cho mỗi nhà có 1 quyển để con cháu được đọc. Quyển gia phổ này cũng mong muốn để các chi họ ta ở mọi nơi, xem vào biết thêm nguồn gốc của mình, xác định anh em thứ bậc trong họ.
Lời tựa, bài dẫn tích thì Ngài Nguyễn Thiếp và Ngài Nguyễn Danh Dương đã viết đầy đủ và khuôn mẫu rồi, cho nên tôi chỉ trình bày những vấn đề nhỏ về nguồn gốc một số tư liệu để mọi người rõ thêm.
Ngày… tháng… năm 2023, niên hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thứ 77.Cháu về dòng trưởng của chi trưởng là hậu sinh Nguyễn Văn Thạc bái biên.